THÔNG TIN Y KHOA | NỘI SOI - TIÊU HÓA

UNG THƯ DẠ DÀY, NGUY CƠ CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC

Theo Ths Bác sĩ Trần Quốc Vĩnh

Ung thư dạ dày là một ung thư nguy hiểm và phổ biến trên thế giới.

Theo ước tính tính của Hiệp hội ung thư Mỹ, năm 2018 có khoảng 1.030.000  người bị ung thư dạ dày trên toàn thế giới, 70% ở các nước đang phát triển, với khoảng 800.000 ca tử vong. Ước tính chung trên toàn thế giới, số lượng ung thư dạ dày đứng hàng thứ 2 và tỷ lệ chết đứng hàng thứ 3 trong các loại ung thư.

Tuy nhiên tần suất là thay đổi rất lớn ở các khu vực địa lý khác nhau. Việt Nam là một nước có tần suất cao về ung thư dạ dày. Ước tính hàng năm có khoảng 15.000 trường hợp ung thư dạ dày được chẩn đoán và có khoảng 11.000 ca tử vong. Ung thư dạ dày đứng hàng thứ ba trong 10 loại ung thư phổ biến tại Việt Nam.

 

Bản đồ ung thư dạ dày trên thế giới (tỷ lệ chết /100000 dân)

Số liệu năm 2018 Việt Nam đứng hàng thứ 10 về tỷ lệ ung thư dạ dày trên toàn thế giới

 

Triệu chứng của ung thư dạ dày:

Không may mắn là, và đây cũng là nguyên nhân chính lý do thường đến muộn của bệnh nhân ung thư dạ dày, triệu chứng của ung thư dạ dày thường khá mơ hồ, không đặc hiệu và thường gây nhầm lẫn với nhiều bệnh lý khác, đặc biệt là trong giai đoạn sớm của bệnh.

- Triệu chứng giai đoạn sớm: ăn không tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không ngon miệng...

- Triệu chứng giai đoạn trung bình: mệt mỏi, đầy bụng sau ăn.

- Triệu chứng giai đoạn muộn: thường xuyên đau bụng, nôn và buồn nôn, đi kèm với rối loạn tiêu hóa, sút cân, nuốt nghẹn, đại tiện ra phân đen (do xuất huyết tiêu hóa)...

Chẩn đoán ung thư dạ dày:

- Triệu chứng lâm sàng: thường chỉ rõ ở giai đoạn muộn.

- Cận lâm sàng:

Nội soi: là phương pháp tin cậy nhất. Qua nội soi sẽ cho thấy hình ảnh tổn thương của dạ dày và các bác sĩ sẽ lấy mẩu gửi giải phẫu bệnh để chẩn đoán xác định ung thư dạ dày. Thủ thuật này là an toàn và đơn giản.

 

-       Chụp X-quang đối quang kép dạ dày.

-       Chụp X-quang ngực được thực hiện để đánh giá các tổn thương di căn.

-       CT scan hoặc MRI ngực, bụng, chậu: đánh giá tiến trình xâm lấn và di căn của tổn thương.

-       Nội soi siêu âm: mới phát triển gần đây, cho phép đánh giá trước phẫu thuật các giai đoạn của khối u.

-       Xét nghiệm:

Æ Xét nghiệm thường quy

Æ Các dấu ấn ung thư:

  • CEA (Carcinoembryonic antigen): tăng trong 45-50% các trường hợp.
  • CA (Cancer antigen 19-9): tăng trong khoảng 20% các trường hợp.

Nguyên nhân gây ung thư dạ dày:

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư dạ dày:

Nhiễm HP (Helicobacter Pylori): Nhiễm trùng do vi khuẩn mãn tính với H pylori là yếu tố nguy cơ cao nhất đối với ung thư dạ dày. H pylori nhiễm trùng có liên quan với viêm dạ dày teo mãn tính, và bệnh nhân có tiền sử viêm dạ dày kéo dài có nguy cơ phát triển ung thư dạ dày tăng gấp 6 lần.

 

-    Chế độ ăn uống: Một chế độ ăn giàu rau muối, cá muối, muối, và các loại thịt hun khói tương quan với tỷ lệ tăng của bệnh ung thư dạ dày. Một chế độ ăn bao gồm trái cây và rau quả giàu vitamin C có thể có một tác dụng bảo vệ dạ dày.

-    Hút thuốc: Hút thuốc có liên quan với tỷ lệ tăng của bệnh ung thư dạ dày, phụ thuộc vào liều lượng, số lượng điếu thuốc và thời gian hút thuốc. Ngừng hút thuốc lá làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày.

-    Đã phẫu thuật dạ dày: phẫu thuật dạ dày làm thay đổi độ PH binh thường của dạ dày có thể đẫn đến chuyển sản niêm mạc dạ dày → phát triền thành ung thư dạ dày.

-    Yếu tố di truyền: Khoảng 10% trường hợp ung thư dạ dày có nguồn gốc gia đình

-    Thiếu máu ác tính: Thiếu máu ác tính liên quan đến viêm dạ dày teo tiên triển và sự thiếu hụt yếu tố nội tại là một yếu tố nguy cơ ung thư dạ dày.

-    Epstein-Barr virus: Các vi-rút Epstein-Barr có thể được liên kết với một hình thức (<1%) bất thường của ung thư dạ dày.

-    Bệnh béo phì: làm tăng nguy cơ ung thư vùng tâm vị dạ dày.

-    Phơi nhiễm phóng xạ: Người sống sót sau vụ nổ bom nguyên tử đã có một tỷ lệ tăng của bệnh ung thư dạ dày. Nhóm người khác tiếp xúc với bức xạ cũng có thể có gia tăng tỷ lệ ung thư dạ dày.

-    Bisphosphonates: Việc sử dụng thuốc bisphosphonates dạng uống có liên quan với tăng nguy cơ ung thư thực quản hoặc dạ dày.

Giai đoạn và tiên lượng ung thư dạ dày (theo Hiệp hội ung thư Mỹ 2006)

Giai đoạn Tỷ lệ sống 5 năm

0

> 90%

I a 60 - 80%
II b 50 - 60%
II 30 - 40%
III a 20%
III b 10%
IV < 5%

Ung thư dạ dày: Nguy cơ có thể tránh được!

Giải thưởng Nobel về Y học năm 2005 đã đánh dấu một sự kiện đặc biệt là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, giải thưởng thuộc về các Bác sĩ lâm sàng về công trình nghiên cứu từ năm 1983 phát hiện vi trùng Helicobacter Pylori như là một tác nhân chính gây ung thư dạ dày. Từ đó mở ra một con đường mới, rất sáng sủa trong việc phòng ngừa và điều trị căn bệnh ác tính này.

Từ đây, cùng với phát kiến này và nhiều hiểu biết khác nữa, người ta tự đặt câu hỏi rằng liệu ung thư dạ dày có thể tránh được hậu quả tàn khốc của nó hay không? Câu trả lời là “ CÓ THỂ”.

Chúng ra hãy nhìn lại vấn đề là tại sao ung thư dạ dày lại nguy hiểm và gây tỷ lệ tử vong cao như vậy? Câu trả lời ngay lập tức có thể suy diễn được: Do ung thư dạ dày đa phần được phát hiện ở giai đoạn muộn hoặc quá muộn.

Tại sao lại muộn?

-  Do triệu chứng giai đoạn sớm của ung thư dạ dày là mơ hồ, không đặc hiệu → gây tâm lý chủ quan của người bệnh.

-  Rất ít người bệnh đi thăm khám định kỳ.

-  Người bệnh lo ngại nội soi dạ dày, trong khi nội soi dạ dày là phương pháp chủ yếu chẩn đoán ung thư dạ dày ngay cả trong giai đoạn sớm. Do triệu chứng có vẻ “ không có gì” người bệnh có tâm lý muốn “ lướt qua  nỗi ám ảnh nội soi”.

Phát hiện sớm sẽ được gì?

-  Vô cùng quan trọng! Ung thư dạ dày phát hiện giai đoạn sớm chỉ cần cắt “hớt” niêm mạc dạ dày, không phải cắt bỏ dạ dày và cơ hội khỏi bệnh lên đến 99%. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm là lớn hơn 90% (so với 5% giai đoạn muộn) là một con số biết nói rất có giá trị.

Thế thì tại Việt nam lúc này thì sao?

Thật không may có đến hơn 75% bệnh nhân ung thư dạ dày Việt Nam đến ở giai đoạn muộn. Kết quả là tỷ lệ số người tử vong do ung thư dạ dày ở Việt Nam xếp hạng cao trên thế giới.

Những kết quả thực tế có thế thấy được do phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm?

-  Nhật Bản chẳng hạn, Nhật Bản là một trong những trong “tứ trụ đại gia thế giới” về tỷ lệ người bị mắc ung thư dạ dày nhưng họ đã có chương trình rất thành công trong việc phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm nên hơn 80% bệnh nhân ung thư dạ dày của họ sống sau 5 năm. Đây là một con số quá ấn tượng. Mỹ, Hàn Quốc cũng là những ví dụ tương tự.

Làm thế nào để phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm:

Rất đơn giản là đi khám định kỳ đặc biệt ở những người trên 40 tuổi (mặc dù có thể không triệu chứng) và đặc biệt có những triệu chứng tiêu hóa dù mơ hồ. Lưu ý là ở Nhật có chương trình tầm soát ung thư dạ dày sau 35 tuổi và Hàn Quốc là sau 40 tuổi. Nội soi định kỳ mỗi 2 năm. Cả hai quốc gia đều có những tiến bộ rất đáng ghi nhận trong việc kéo dài cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày.

Nhưng tôi rất sợ, rất ám ảnh nội soi dạ dày:

Đây có thể nói là tâm lý chung của hầu hết mọi người. Thực ra thì nội soi dạ dày về phương diện kỹ thuật là một thủ thuật an toàn và đơn giản. Hơn nữa hiện nay sự phát triển vũ bão của ngành ảnh kỹ thuật số, các máy nội soi ngày càng “ tí hon hóa “ tạo sự dễ chịu trong khi soi. Hơn nữa bệnh nhân có thể lựa chọn nội soi qua đường mũi, một kỹ thuật mà máy soi chỉ bằng khoảng ¼ so với dây soi tiêu chuẩn và do đi bằng đường mũi nên bệnh nhân hoàn toàn có thề “ ăn nói” thậm chí “cười nói” trong lúc nội soi.

Nhưng nếu tôi tiếp tục bị ám ảnh?

Dĩ nhiên là bác sĩ khám sẽ tư vấn cho bệnh nhân. Nội soi dạ dày gây mê là một lựa chọn tốt. Với sự phát triển tột bậc của ngành gây mê, nội soi gây mê là một thủ thuật rất an toàn và đem lại sự dễ chịu cho bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân tỉnh lại gần như cùng lúc với lúc kết thúc cuộc soi. Thậm chí có người còn không biết mình vừa trải qua cuộc nội soi. Hơn nữa nội soi gây mê sẽ cho những hình ảnh khảo sát tốt hơn.

 

 

Các hình A (bên T): sự co thắt cơ dạ dày xảy ra trong quá trình nội soi không gây mê.

Các Hình B (bên P): dạ dày thư giãn trong nội soi gây mê.

Phòng ngừa ung thư dạ dày như thế nào?

Phòng ngừa bằng cách hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố nguy cơ:

-  Điều trị nhiễm trùng do Helicobacter Pylory.

-  Không hút thuốc lá.

-  Tránh ăn các thức ăn nhiều muối, nhiều gia vị hoặc chưa nhiều chất hóa học như nitrat (có thể biến thành Nitrosamin là chất sinh ung thư)

-  Dùng nhiều các thức ăn như rau cải, cam chanh, nhiều Vitamin C… Những chất này có tác dụng bảo vệ không gây ung thư dạ dày và một ung thư khác nữa.

-  Cuối cùng, cùng lúc với những biện pháp đã kể trên cần thiết phải khám định kỳ để phát hiện tổn thương nếu có. Đây cũng có thể coi là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu “tình trạng muộn” bi đát của ung thư dạ dày.



ĐỐI TÁC CỦA CHÚNG TÔI

Bumrungrad International Hospital

KhamOnline